02.05.2012

Đổi mới giáo dục đại học đang là một trong những vấn đề nóng nhất, thu hút sự quan tâm sâu sắc của toàn xã hội. Nhằm tìm kiếm giải pháp cho vấn đề này, Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần đã có cuộc trao đổi cùng TS Bùi Trân Phượng, Hiệu trưởng Trường Đại học Hoa Sen, người vừa vinh dự được nhận Huân chương Quốc công bậc Hiệp sĩ của Tổng thống Cộng hòa Pháp bởi những đóng góp của bà trong việc phát triển ngôn ngữ và văn hóa Pháp.

- Phóng viên (PV): Bà có thể định nghĩa lại, thế nào là “đào tạo đại học”?

- TS Bùi Trân Phượng: Đào tạo đại học theo nghĩa rộng là đào tạo sau phổ thông, bao gồm nhiều lộ trình dài, ngắn, với mục tiêu, phương thức đào tạo khác nhau. Cũng có người muốn hiểu theo nghĩa hẹp, với truyền thống hàn lâm chỉ thừa nhận là đại học những trường đại học nghiên cứu với bậc học chủ yếu là cao học và tiến sĩ hay ít nhất, bắt buộc bao gồm đào tạo sau đại học. Tùy ngữ cảnh, “đào tạo đại học” có thể được hiểu theo nghĩa ít nhiều rộng, hẹp như vậy. Cũng cần lưu ý là mỗi nước có truyền thống và phương thức tổ chức giáo dục, đào tạo đại học khác nhau. Điều này cũng tạo sắc thái ý nghĩa khác cho khái niệm. Tuy nhiên, vẫn có một số đặc tính chung, căn bản nhất mà nếu thiếu đi, không thể coi là đào tạo đại học đúng nghĩa, bất chấp mọi đặc thù của bối cảnh lịch sử, văn hóa, chính trị, xã hội. Chẳng hạn, dù rất khác biệt nhau cả về mục tiêu, quy mô và phương thức đào tạo, nhưng trường đại học (université) hay trường đào tạo kỹ sư (école d’ingénieur) ở Pháp hiển nhiên đều thuộc về đào tạo đại học (enseignement supérieur). Còn trong bối cảnh khác, dẫu gọi tên là gì thì cũng khó có sức thuyết phục hoàn toàn về tính chất đại học đúng nghĩa của một số cơ sở đào tạo có danh xưng đại học.

Đặc tính chung nhất của giáo dục đại học theo quan điểm của tôi là nơi những người trí thức góp phần phát triển những thế hệ trí thức mới. Dù thiên về nghiên cứu hay nhấn mạnh đào tạo nghề nghiệp, dù trong lĩnh vực học thuật hay ngành nghề đào tạo nào, giáo dục đại học không thể không quan tâm tạo những điều kiện tốt nhất có thể, những phương thức sáng tạo và hiệu quả nhất có thể để phát huy năng lực tư duy và ý thức trách nhiệm của người dạy, người học và cả những người đang quản lý đại học hay đang xa gần có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đại học cũng không thể tách rời bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nơi mình hoạt động, vì vậy dù là bản địa hay “nhập khẩu”, đại học cũng vẫn phải tính đến bối cảnh đó để có phần thích ứng và có phần tác động ngược lại, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.

- PV: Cụm từ “xã hội hóa giáo dục” hiện đang được dùng khá phổ biến ở nước ta. Theo bà, trong hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội hiện tại ở Việt Nam, nên hiểu cụm từ này như thế nào?

- TS Bùi Trân Phượng: “Xã hội hóa giáo dục” ở Việt Nam đang được hiểu một cách phiến diện theo nghĩa là toàn xã hội phải chung tay gánh chi phí giáo dục, một cách công khai, chính thức thông qua đóng học phí hoặc không chính thức dưới nhiều dạng ẩn hiện khác nhau. Trong khi đó lại không được bảo đảm an toàn, giảm thiểu rủi ro cho một hoạt động phức hợp mà kết quả có nhiều mặt phải cần thời gian dài lâu mới cảm nhận hay kiểm nghiệm được và không phải bất kỳ ai cũng kiểm tra, đánh giá được. Chẳng những người học (trường công cũng như tư) mà người quản lý, người dạy và nhiều thành phần khác đối với giáo dục hiện nay đều chỉ có nghĩa vụ mà không được bảo đảm quyền lợi hay quyền hạn tương xứng.

Cũng như mọi hoạt động khác, giáo dục chỉ hoạt động bình thường nếu chức năng, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của từng tác nhân được minh định hợp lý, được pháp luật và công luận bảo vệ. Nó có thêm cơ may hiệu quả nếu Nhà nước và xã hội nhìn nhận vai trò quan trọng của nó, đầu tư đúng mức cho nó về các nguồn tài nguyên cần thiết, trong đó có ngân sách. Tuy nhiên, tiền không phải là nguồn lực duy nhất, cũng không là quan trọng nhất.

Kiểm tra, giám sát là chức năng quản lý Nhà nước, nhưng hiện nay các cơ quan chức năng thực hiện chưa tốt vì chưa tập trung vào nhiệm vụ này mà còn ôm đồm nhiều việc quản lý trực tiếp trong cơ chế xin -cho. Đối với giáo dục đại học, kiểm định chất lượng không nên là độc quyền của Bộ Giáo dục và Đào tạo hay cơ quan Nhà nước khác. “Xã hội hóa” nên được hiểu một cách toàn diện cả về trách nhiệm tham gia đóng góp chi phí, đầu tư (của phụ huynh cho tương lai của con, của Trung ương hay địa phương cho giáo dục công lập, của nhà đầu tư cho giáo dục tư thục), tham gia hoạt động lẫn về quyền kiểm tra, giám sát, quyền được chọn lựa và chịu trách nhiệm về những lựa chọn của mình. Nên sớm hình thành các tổ chức kiểm định độc lập có đủ chuyên môn, nghiệp vụ và uy tín để góp phần bảo vệ người tham gia hoạt động giáo dục cũng như người thụ hưởng.

- PV: Theo bà, hiện có hay không một thị trường giáo dục ở Việt Nam? Có thể coi giáo dục như một loại hình dịch vụ không?

- TS Bùi Trân Phượng: Chỉ cần nhìn vào tỷ trọng rất lớn của chi phí dành cho giáo dục trong ngân sách của mỗi gia đình, sự hiện diện ồ ạt của các cơ sở giáo dục trên trang quảng cáo của báo chí hay phương tiện truyền thông khác, hay con số sinh viên Việt Nam đi du học không ngừng tăng và sự săn đón của các trường quốc tế đủ loại để trả lời câu hỏi có hay không một thị trường giáo dục.

Tuy nhiên, loay hoay bàn cãi về thị trường hay không thị trường, lợi nhuận hay phi lợi nhuận thật ra không thiết thực, không cấp bách bằng nhận dạng “cuộc cạnh tranh chất xám vĩ đại”, như nhan đề một quyển sách xuất bản gần đây, là bản dịch tiếng Việt của một công trình nghiên cứu mới mẻ trả lời câu hỏi: “Các đại học toàn cầu đang tái định hình thế giới như thế nào?”. Một chuyên gia trả lời: “ …Sự thật là những người có học đại học giờ đây tham gia một thị trường lao động toàn cầu. Những cá nhân trong thị trường làm việc toàn cầu đó đang được đào luyện ở nhiều định chế giáo dục khác nhau, mà chúng ta cần biết rõ hơn định chế giáo dục nào trong số đó là tốt, định chế nào không tốt bằng”. (Merisotis, nguyên Giám đốc Viện Chính sách giáo dục đại học ở Washington).

Tác giả Ben Wildavsky cũng cho rằng, hiện nay sự lưu động của sinh viên, giáo sư và các ý tưởng khắp hoàn cầu đang diễn ra với những giới hạn ít chưa từng có. Những người “dạy, học, nghiên cứu và công bố kết quả nghiên cứu đều có thể tận dụng lợi thế của thị trường toàn thế giới rộng lớn. Thị trường này đặc biệt thấy rõ ở tầng mức tinh hoa của giáo dục đại học. (Nhận xét này trái với nhận thức thông thường ở nước ta đổ tội cho “thương mại hóa” là nguyên nhân của giáo dục kém chất lượng). (…)Thậm chí trong số sinh viên không thuộc hàng ưu tú T (…),hoặc những người mong muốn có được một chứng chỉ học nghềh, thì tính chất sẵn có các phương án chọn lựa xuyên biên giới ở cả hai hướng đã làm biến đổi số lượng và thể loại các khả năng lựa chọn học thuật sẵn có, do đó càng tạo ra một thị trường bình đẳng hơn bao giờ hết”. (Cuộc cạnh tranh…, tr. 354-355).

Đối với lo ngại chính đáng về nguy cơ mất gốc của sinh viên du học, tác giả hỏi lại: “Tại sao sinh viên lại không thể vừa là công dân thế giới một cách tiện lợi vừa là những công dân tận tụy của nước mình?”. ông tin rằng, kể cả sinh viên nghèo cũng sẽ ngày càng có điều kiện tiếp cận giáo dục quốc tế nhờ tăng cường sử dụng công nghệ truyền thông hiện đại. “Diện mạo đang dần hiện ra của quá trình toàn cầu hóa giáo dục ngày càng có đặc điểm nổi bật là tính uyển chuyển, khả năng lưu động và sự trọng dụng thực tài” (sđd, tr.358). Có ý thức kịp thời về cuộc cạnh tranh chất xám hay không và có phản ứng phù hợp hay không là điều có tầm quan trọng sống còn, không chỉ đối với giáo dục đại học của Việt Nam cũng như bất cứ nước nào khác.

- PV: Một trong những vấn đề được các trường đại học đặc biệt quan tâm trong quá trình xây dựng Luật Giáo dục đại học hiện nay là “quyền tự chủ”. Theo bà, nếu được trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở mức độ cần thiết, các trường đại học có tự tạo được sự đột biến trong đào tạo? 

- TS Bùi Trân Phượng: Có tạo được đột biến trong đào tạo hay không, chủ yếu tùy thuộc ở nội lực của từng trường, ở tầm nhìn của lãnh đạo, năng lực quản lý, năng lực chuyên môn và tâm huyết của đội ngũ sư phạm, trình độ đầu vào, động cơ và năng lực nghiên cứu, học tập của sinh viên. Một phần khác tùy thuộc môi trường kinh tế, văn hóa, chính trị xã hội trong đó nhà trường vận hành.

Còn trao -nói đúng hơn là trả lại -quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho cấp trường, theo tôi chỉ đơn giản là bảo đảm điều kiện sống còn để một trường đại học thực sự là đại học. Không thể coi là trường đại học đúng nghĩa, dù ở đó có bao nhiêu giáo sư, tiến sĩ, nếu nhà trường không có quyền tự chủ tối thiểu để minh định sứ mạng và mục tiêu, phương thức đào tạo; chọn lựa đối tác sư phạm, ngành học, lĩnh vực học thuật mà mình muốn phát triển, theo thứ tự ưu tiên và mức độ đầu tư các nguồn tài nguyên cho mỗi lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu mà mình cho là phù hợp.

Cũng thuộc về chức trách bình thường của các trường đại học là những công việc nghiệp vụ như tuyển sinh, thi, kiểm tra, xét tốt nghiệp, tổ chức thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế, nghiên cứu, hội thảo khoa học, giảng dạy, học tập, quảng bá tri thức, các loại hình sinh hoạt trong và ngoài lớp học, trong và ngoài biên giới quốc gia để đào tạo, bồi dưỡng tri thức, năng lực và giúp người dạy, người học không ngừng mở rộng hiểu biết, tư duy, khám phá, sáng tạo. Nếu trong việc thực hiện chức trách bình thường đó của mình mà lẽ đương nhiên là phải chịu trách nhiệm tương xứng với quyền tự chủ được thực thi -trường đại học vẫn phải báo cáo, xin ý kiến, xin chủ trương, chờ cấp phép quá nhiều lần, cho nhiều việc quá cụ thể, chi li tới mức vụn vặt thì nó đang gặp trở ngại ngay trong thực tế vận hành hằng ngày.

Ông Fabrice Mauriès, tổng lãnh sự Pháp, trao Huân chương Quốc công bậc Hiệp sĩ của Tổng thống Cộng hòa Pháp cho TS Bùi Trân Phượng

 

Cho nên, thay vì tự hỏi nhau hoài về những giải pháp “thần kỳ” có khả năng “tạo đột biến”, tôi chỉ mong giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng được trả lại bầu không khí thanh thản bình thường cần thiết cho người làm việc trí óc, để người thầy chuyên tâm làm giáo dục, làm khoa học, tập trung thời gian, trí tuệ của mình vào việc nghiên cứu khoa học, truyền đạt tri thức, bồi dưỡng nhân cách, cải tiến phương pháp, theo dõi những xu thế chuyển động của giáo dục trên thế giới, mở mắt mở lòng học hỏi từ kinh nghiệm thực tế và những trăn trở, ưu tư, tìm tòi, sáng tạo của các nước để tìm con đường phát triển phù hợp cho giáo dục Việt Nam. Sinh viên là người học đã trưởng thành, có đầy đủ quyền công dân. Họ cũng phải được tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong những quyết định quan trọng thiết thân như chọn trường, chọn ngành học, chọn lộ trình học và một số môn học và cả chọn thầy, chọn cách tổ chức học tập thích hợp cho mình. Không ai có thể thay thế nhà khoa học, nhà giáo dục, thay thế người thầy trong quản lý đại học, trong nghiên cứu, giảng dạy, hướng dẫn, tư vấn người học. Không thầy cô hay phụ huynh nào có thể làm thay sinh viên trong quá trình tự học, tự đào tạo, tự nâng cao ý thức trách nhiệm của mình đối với cộng đồng.

- PV: Sau nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực đào tạo đại học, bà có thể chia sẻ thêm với bạn đọc Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học?

- TS Bùi Trân Phượng: Giải pháp căn cơ nhất nói nôm na là “làm thiệt, đừng làm đồ giả” vì người ta quá sợ bị dùng nhầm hàng giả rồi. “Làm thiệt” có nghĩa là giáo dục đại học phải là giáo dục đúng nghĩa giáo dục và đại học đúng nghĩa đại học. Không nhất thiết chỉ có bưng nguyên trường nước ngoài vô (quýt trồng đất này, đất khác còn chua ngọt khác nhau, nữa là…), hay sao chép chương trình nước ngoài, sử dụng hoàn toàn ngoại ngữ và thầy giáo quốc tế mới là “đúng nghĩa”. Có khi sao chép chỉ ra “hàng nhái” mà thôi. Nhưng giáo dục đại học về bản chất là có tính phổ quát, quốc tế. Khoa học không có biên giới, các giá trị nhân bản cũng vậy. Cho nên, trường đại học Việt Nam đúng nghĩa là trường mà giáo sư, giảng viên hay sinh viên quốc tế có thể đến nghiên cứu, học tập, giao lưu với đồng nghiệp và sinh viên Việt Nam mà không bị rào cản ngôn ngữ hay rào cản khác. Văn bằng của trường đại học ở Việt Nam thực sự là bằng đại học khi trường đại học ở nước khác tiếp nhận sinh viên tốt nghiệp của chúng ta để học tiếp không thấy trở ngại gì; doanh nghiệp và xã hội tiếp nhận nhân lực do đại học đào tạo cảm thấy hài lòng vì họ đủ chuẩn chất của lao động chuyên nghiệp cao cấp, nếu đại học nào xác định đào tạo người nghiên cứu thì thầy và trò ở đó có đủ năng lực và uy tín khoa học trong nghiên cứu, một cách chuyên nghiệp. Và không kém phần quan trọng, người tốt nghiệp đại học phải tự cảm thấy và được công chúng nhìn nhận là đủ nhân cách người trí thức hữu dụng cho đời, cho đất nước. Điều chúng ta cần quan tâm là làm sao cho giáo dục đại học của chúng ta có chất lượng đại học theo nghĩa phổ quát như các nước, chứ “nâng cao” đối với tôi là khái niệm không mấy rõ ràng, thế nào sẽ gọi là cao, và “nâng” hoài nhưng thực tế bao giờ thì nó sẽ cao?

PV: Xin cảm ơn bà về cuộc phỏng vấn!

Huy Quân (thực hiện)

(Nguồn: Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần)

 

CỘNG ĐỒNG HOA SEN